Tại sao cá biết bơi và sống dưới nước?

tại sao con cá biết bơi

Bạn nghĩ rằng ngay lúc mới nở, cá đã là tay bơi kỳ khôi. Sự thực lại ko phải thế. Khi chào đời, ấu trùng cá bắt buộc vật lộn để đi lại và sống sót. Khoảng 99% số cá tử vong là ở trong công đoạn ấu trùng này.

Chỉ khi to lên chúng mới trốn tránh quân thù. Những con trưởng thành thường nhanh chóng chạy trốn nhờ kỹ thuật vọt lên và lao xuống – kỹ thuật giúp chúng đạt được cực kỳ cao và sau đấy lướt đi xa. Nhiều loài ko mang được kỹ năng này ngay khi ra đời.

Các nhà khoa học từ lâu đã nghi ngờ rằng chính vì trọng lượng quá nhẹ mà các ấu trùng non ko thể đạt đủ bắt buộc trong pha vọt lên. Và sở hữu kích cỡ quá nhỏ của chúng cũng khiến cho cho nước vươn cản trở hoạt động của chúng.

Nhưng một nghiên cứu vừa qua trên ấu trùng loài cá đã kết luận rằng chính bộ vây bên kém tăng trưởng và bong bóng bơi ko hiệu quả đã níu chúng lại. Lũ cá đơn giảnkhông thể giữ cho thân thể ổn định theo phương ngang.

“Động năng thể giảng giải cho tình trạng bơi kém ở 1 vài loài ấu trùng cá, nhưng ko tất cả, và sự dị biệt trong khả năng lao xuống không thể được giải thích bằng sự dị biệt về chiều dài cơ thể chúng”, trưởng nhóm nghiên cứu Ulrike Muller từ Đại học Wageningen ở Hà Lan cho biết. “Nhiều ấu trùng cá nở ra vây ngực chưa tăng trưởng hoàn chỉnh, và tất cả chúng đều không bong bóng, bởi vậy vấn đề ở cá ngựa thể xảy ra chúng”.

tai sao ca lai biet boi song duoi nuoc

Tổ tiên của cá  là 1 loài thú sống trên cạn. Trong giai đoạn di xuống biển, các sinh vật vĩ đại này đã thu nhỏ để thích ứng sở hữu đời sống vĩnh viễn dưới nước.

Một nhóm kỹ thuật quốc tế ban bố kết quả này, sau khi đã nghiên cứu các hóa thạch cá.

Các nhà khoa học tin rằng cha ông của bộ cá là những động vật trên cạn. Trong công đoạn tiến hóa, chúng đã rời xa đất liềntoài dần xuống biển để trốn tránh kẻ thù hoặc kiếm tìm thức ăn. Dần dần, các con thú này tiêu biến các chi và vươn lên là thích nghi hoàn toàn sở hữu đời sống dưới nước. Cho đến một thập kỷ trước đây, công nghệ mới chỉ biết siêu ít về công đoạn chuyển tiếp này. Nhưng nay, các hóa thạch mới phát hiện được đã lấp phần nào thể tích lịch sử đó, trong ấy mang lời giải cho việc khiến cho thế nào cá thể trở thành những tay bơi lượn cự phách mà không hề chóng mặt.

Phần to những loài cá có chất khí bằng mang, là bộ phận nằm ở những bên của hầu. Cấu thành từ các cấu trúc na ná như sợi chỉ gọi là các thớ mảnh. Mỗi thớ mảnh chứa 1 hệ thống các mao quản để với khoảng trống tiếp xúc bề mặt lớn cho việc trao đổi ôxy cacbon. Bằng phương pháp hút nước giàu ôxy qua miệng và đẩy chúng qua các thớ mảnh của mang. Chúng sau đấy đẩy nước ôxy ra ngoại trừ lỗ hổng ở các bên của hầu. Một số loài cá, như cá mập và cá mút đá, lỗ hổng của mang. Tuy nhiên, rất nhiều những loài cá sở hữu 1 lỗ hổng của trên mỗi bên của cơ thể. Lỗ hổng này được bưng bít bằng 1 lớp chất xương bảo vệ gọi là nắp mang. Một số loài cá, như cá với phổi, đã phát triển cơ chế thích ứng để cho phép chúng thể tồn tại trong các khu vực nghèo ôxy hay những nơi mà nước thường xuyên bị khô cạn. Các loài cá này với các cơ quan đặc trưng tác dụng như phổi. Chúng mang một ống đưa ko khí chứa ôxy đến cơ quan này theo đường mồm cá. Một số loài cá với phổi là những loài phụ thuộc vào việc nhận ôxy từ không khí và chúng sẽ chết ngạt ví như không được nhô đầu lên khỏi bề mặt nước.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *